Báo Trung Quốc t.r.ắ.ng tr.ợ.n đổ vấy Việt Nam và Philippines “v.u kh.ố.ng” Bắc Kinh ở Biển Đông, b.u.ộ.c Hải cảnh n.ổ s.ú.ng

Hoàn Cầu (Global Times) lấy luận đi.ệu c.á.o b.u.ộ.c chính Việt Nam và Philippines đã “v.u kh.ố.ng” Bắc Kinh với khái niệm mập mờ về các vùng biển chồng lấn, tranh chấp để lý giải việc Trung Quốc cho Cảnh sát Biển n.ổ s.ú.ng, dùng v.ũ l.ự.c ở Biển Đông là “hợp pháp”.

Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc còn cho rằng, các nước láng giềng (Việt Nam, Philippines, Malaysia) nên “tận dụng cơ hội” để làm việc, hợp tác với Trung Quốc để duy trì trật tự thực thi pháp luật ở Biển Đông.

Trong khi đó, tại Hội thảo ARF về tăng cường thực thi pháp luật trên biển, lãnh đạo các nước ASEAN và Australia tuyên bố việc sử dụng v.ũ l.ự.c ở các vùng biển tranh chấp (như Biển Đông) là rất nhạy cảm, dễ dẫn đến nguy cơ leo thang c.ă.ng th.ẳ.ng trong khu vực.

Còn tại Diễn đàn ASEAN – Australia lần thứ 33, Úc khẳng định ủng hộ quan điểm, lập trường của các quốc gia Đông Nam Á về Biển Đông, tăng cường xây dựng lòng tin, duy trì đối thoại hòa bình, tránh có động thái làm phức tạp tình hình Biển Đông.

Thời báo Hoàn Cầu (Global Times), cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có những lời lẽ giảo biện, biện minh cho việc vì sao Bắc Kinh sẵn sàng n.ổ s.ú.ng, dùng v.ũ kh.í nhắm vào tàu nước ngoài ở Biển Đông.

Hoàn Cầu thừa nhận, kể từ khi có hiệu lực vào ngày 1 tháng 2, Luật Cảnh sát Biển của Trung Quốc đã bị truyền thông phương Tây và một số nước láng giềng bày tỏ nghi ngờ, quan ngại.

Tuy nhiên, báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc cho rằng, đây là một điều vô căn cứ.

Nói về các tuyên bố chủ quyền “chồng chéo”, Hoàn Cầu khẳng định, căn cứ trên chủ quyền lãnh thổ của mình đối với các đảo ở Biển Đông, Trung Quốc có các quyền lịch sử đối với các vùng biển, bao gồm nội thủy và lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Theo tờ báo Trung Quốc, trong những năm 1970, với sự phát triển nhanh chóng của luật biển, một số quốc gia ven Biển Đông bắt đầu đưa ra các yêu sách về quyền hàng hải trong vùng biển này, làm nảy sinh các y.ê.u s.á.ch chồng lấn trong khu vực.

Theo luật biển (bao gồm cả Công ước Liên hợp quốc về Luật biển), các quốc gia dọc theo bất kỳ vùng biển nhất định nào được hưởng các quyền tương ứng về quản lý và thực thi pháp luật trong vùng biển tương ứng.

“Nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam và Philippines, đã đặt ra các phạm vi thực thi pháp luật tương đối mơ hồ dựa trên luật biển trong nước của họ”, Hoàn Cầu nhận định.

Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc còn tr.ắ.ng tr.ợ.n c.á.o b.u.ộ.c, các quốc gia có chung tranh chấp ở Biển Đông như Việt Nam hay Philippines đã “v.u kh.ố.ng” cho Bắc Kinh liên quan đến chủ quyền các vùng biển có chồng lấn.

“Đây hoàn toàn là một động thái tiêu chuẩn kép nhằm vu khống Trung Quốc bằng cách cáo buộc Trung Quốc mập mờ về các vùng biển có yêu sách chồng lấn, khi nó liên quan đến các quy định thực thi pháp luật”, Hoàn Cầu tuyên bố.

Báo Hoàn Cầu: Trung Quốc dùng v.ũ l.ự.c thực thi pháp luật là hoàn toàn “hợp pháp”

Tờ báo nêu lên luận điểm, một số người cho rằng việc sử dụng v.ũ kh.í bị cấm theo luật quốc tế trừ khi được Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cho phép hoặc để tự vệ. Do đó, họ tuyên bố Trung Quốc không được sử dụng bất kỳ v.ũ kh.í nào chống lại các tàu và nhân viên nước ngoài ở Biển Đông.

Theo cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đây rõ ràng là một luận điệu nhằm gây nhầm lẫn giữa đúng và sai. Việc sử dụng v.ũ kh.í trong thực thi pháp luật hoàn toàn khác với các kịch bản liên quan được quy định trong Hiến chương Liên Hợp Quốc.

Hoàn Cầu dẫn chứng, trên thực tế, việc sử dụng v.ũ l.ự.c trong thực thi pháp luật đã được các luật quốc tế có liên quan chấp thuận từ lâu, ví dụ, Hiệp định của Liên hợp quốc về việc thực hiện các quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển ngày 10 tháng 12 năm 1982 liên quan đến việc bảo tồn và quản lý nguồn thủy sản quy định rằng, “mức độ v.ũ l.ự.c được sử dụng không vượt quá mức yêu cầu hợp lý trong các trường hợp”. Như vậy, hiệp định đã nêu rõ sự cần thiết của việc thực thi pháp luật bằng v.ũ l.ự.c trong các trường hợp cụ thể.

 

Tờ báo của Trung Quốc còn nhấn mạnh rằng, các điều ước và văn bản quốc tế khác cũng có những quy định tương tự, bao gồm Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển, Công ước về ngăn chặn hành vi trái pháp luật chống lại sự an toàn hàng hải, Quy tắc ứng xử của Liên hợp quốc về thực thi pháp luật và Các nguyên tắc cơ bản về việc sử dụng v.ũ l.ự.c và v.ũ kh.í của các cơ quan thực thi pháp luật.

Một số văn bản nêu trên cũng đưa ra các hạn chế đối với việc sử dụng vũ lực. Theo đó, việc sử dụng v.ũ l.ự.c là hợp pháp trong các tình huống mà việc thực thi pháp luật trên biển bị cản trở, hoặc sự an toàn của nhân viên thực thi pháp luật bị đe dọa hoặc khi tội phạm bạo lực trên biển cần bị khống chế – miễn là tuân thủ các quy trình cụ thể và không vượt quá giới hạn cần thiết.

“Hầu hết các quốc gia ven biển, bao gồm Malaysia, Hàn Quốc và Mỹ, đã thông qua luật cho phép lực lượng thực thi pháp luật hàng hải sử dụng vũ lực. Luật Cảnh sát biển Việt Nam cũng quy định rõ rằng lực lượng bảo vệ bờ biển Việt Nam có thể n.ổ s.ú.ng trong một số trường hợp nguy hiểm”, Hoàn Cầu ám chỉ không chỉ mình Trung Quốc mới sẵn sàng cho Hải cảnh được nổ súng.

Báo này cho hay, luật Cảnh sát biển của Trung Quốc không chỉ cho phép thực thi pháp luật bằng vũ lực, mà còn đưa ra các điều khoản chi tiết về việc sử dụng các loại v.ũ kh.í khác nhau, giúp tăng cường khả năng dự đoán của việc thực thi pháp luật, trong đó bao gồm việc ghi chép quá trình thực thi pháp luật và điều tra trách nhiệm đối với các lỗi vi phạm khi thực thi pháp luật. Những động thái này giúp tăng cường giám sát và nâng cao trách nhiệm giải trình đối với việc sử dụng v.ũ l.ự.c.

“Đã từ lâu, lực lượng thực thi pháp luật trên biển của Trung Quốc không có bất kỳ hành động nào đối với ngư dân nước ngoài trong các hoạt động bình thường, chưa nói đến các biện pháp gây nguy hiểm đến tính mạng của họ. Lực lượng bảo vệ bờ biển của Trung Quốc, đứng về phía công lý, luôn ghi nhớ bức tranh tổng thể và dài hạn”, Hoàn Cầu khăng khăng khẳng định.

Chưa hết, tờ báo được nhà cầm quyền Bắc Kinh hậu thuẫn còn cho biết thêm rằng, các hoạt động thực thi pháp luật trên biển của Trung Quốc được kỳ vọng sẽ trở nên khoa học và chuẩn hóa hơn với việc ban hành Luật Cảnh sát biển.

“Các nước láng giềng có liên quan nên tận dụng cơ hội này để làm việc với Trung Quốc để duy trì trật tự thực thi pháp luật ở Biển Đông và cùng nhau tạo dựng một khu vực hòa bình và hòa hợp”, Hoàn Cầu lưu ý.

Có thể thấy, phân tích của tờ báo Trung Quốc bao biện nhiều yếu tố và hoàn toàn không đề cập đến việc Tòa Trọng tài Quốc tế PCA năm 2016 đã bác bỏ tuyên bố chủ quyền phi pháp ở Biển Đông của Bắc Kinh. Có một sự thật không thể phủ nhận đó là, Trung Quốc đã thua kiện Philippines khi đó.

Tòa Quốc tế đưa ra căn cứ trên một số viện dẫn từ UNCLOS 1982. Chính vì thế, Trung Quốc không thể sử dụng các quyền mà UNCLOS 1982 cho phép để áp dụng cho vùng biển mà Trung Quốc không được công nhận chủ quyền theo UNCLOS 1982.

Liên quan Luật Cảnh sát Biển, các nước có chung tranh chấp và giới quan sát quốc tế nhiều lần lên tiếng bày tỏ quan ngại, nhất là khi Trung Quốc liên tục có nhiều hành vi gây rối ở Biển Đông những năm gần đây.

Việt Nam đã nhiều lần lên tiếng phản đối với chính quyền Chủ tịch Tập Cận Bình thông qua Luật Hải cảnh, Luật Cảnh sát Biển. Trong các thông báo đưa ra, Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh rằng, khi ban hành và triển khai văn bản pháp luật quốc qia liên quan đến biển, các quốc gia có nghĩa vụ tuân thủ luật pháp quốc tế, các điều ước quốc tế mà mình là thành viên, đặc biệt là Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).

Hà Nội tái khẳng định có đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa và sẽ kiên quyết, kiên trì các biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế để bảo vệ các quyền hợp pháp, chính đáng đó.

“Việt Nam yêu cầu các nước không có hành động làm gia tăng căng thẳng, tích cực đóng góp vào việc tạo dựng lòng tin, gìn giữ hòa bình, ổn định, thúc đẩy trật tự quốc tế trên biển và an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở khu vực Biển Đông”, Bộ Ngoại giao Việt Nam nêu rõ.

Bộ Ngoại giao Việt Nam có thông cáo cho biết, Hội thảo Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) lần thứ 3 về tăng cường hợp tác thực thi luật pháp trên biển đã diễn ra từ ngày 16 đến 17/3/2021.

Hội nghị có sự góp mặt của các quan chức, nhà nghiên cứu và chuyên gia đầu ngành về an ninh và thực thi pháp luật trên biển đến từ các nước, tổ chức trong ARF, cũng như từ các tổ chức khu vực và quốc tế.

Đồng chủ trì và Trưởng đoàn Việt Nam tại hội nghị là ông Vũ Hồ, Vụ trưởng Vụ ASEAN (Bộ Ngoại giao).

Phát biểu tại hội nghị, ông Vũ Hồ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì và thúc đẩy đối thoại, hợp tác nhằm ứng phó với các thách thức an ninh ở khu vực, trong đó có an ninh biển.

Đại diện Việt Nam khẳng định, các nước đều chia sẻ lợi ích chung trong việc bảo đảm mọi vùng biển hoà bình, an ninh, an toàn và trong sạch. Chính vì thế, các nước cần tiếp tục hợp tác với nhau, trong đó có hợp tác giữa các lực lượng thực thi pháp luật.

Hội nghị cho rằng, thời gian qua, khi mà các lực lượng thực thi pháp luật trên biển đẩy mạnh hoạt động, thì nguy cơ xung đột cũng gia tăng tương ứng.

Việc sử dụng v.ũ l.ự.c trong thực thi pháp luật trên biển là một trong những vấn đề nóng được quan tâm tại hội nghị. Nhiều học giả nhấn mạnh, tuy Công ước Biển có điều khoản cho phép sử dụng v.ũ l.ự.c khi thi hành công vụ, nhưng chỉ giới hạn trong trường hợp thực sự cần thiết và phù hợp, kèm theo đó là các hạn chế cần thiết.

Sử dụng v.ũ l.ự.c là biện pháp cuối cùng sau khi mọi biện pháp khác đã được thực hiện, cần tuân thủ các nguyên tắc, quy trình chung, đặc biệt tránh gây nguy hại tới tính mạng.

Đặc biệt, việc sử dụng v.ũ l.ự.c chỉ có thể tiến hành trong vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia. Đối với vùng biển đang tranh chấp, việc này rất nhạy cảm, dễ gây leo thang căng thẳng.

Hội nghị thống nhất rằng, các bên cần tích cực triển khai những biện pháp xây dựng lòng tin, hiểu biết lẫn nhau giữa các cơ quan thực thi pháp luật trên biển.

Bài viết liên quan