ĐBSCL “lột xác”: Thay tất cả nhà máy điện than TQ sắp xây bằng nhà máy LNG và năng lượng tái tạo

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức Hội nghị báo cáo và tham vấn Quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 tại Cần Thơ sáng ngày 26/11.

Sau cuộc họp tham vấn ngày hôm nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ tiếp tục hoàn thiện, báo cáo trình Hội đồng Thẩm định quy hoạch vùng xem xét, thẩm định trước khi trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 12/2020.

Quy hoạch vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được xây dựng dựa trên nguyên tắc: “Bảo vệ người dân, cải thiện sinh kế, phát triển cân bằng và bảo vệ môi trường” mà trọng tâm với những điểm nhấn chính sau đây:

Thứ nhất, Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được nghiên cứu tiếp thu từ kinh nghiệm của Hà Lan, nơi có điều kiện tự nhiên cũng như quy mô diện tích và dân số tương đồng với vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Theo đó, quy hoạch hướng tới phát triển bền vững trên cả 3 trụ cột kinh tế – xã hội – môi trường, lấy yếu tố “con người” làm trung tâm, trở thành chìa khóa cho tăng trưởng và phát triển, lấy “thích ứng” với biến đổi khí hậu làm cách thức phát triển theo khẩu hiệu “muốn tiến lên phía trước, bắt buộc phải thích ứng”.

Thứ hai, Quy hoạch định hướng phân vùng sinh thái nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái nông nghiệp nhằm tăng tối đa sản lượng và chất lượng, giá trị nông sản, đồng thời hài hoà với điều kiện tự nhiên môi trường. Phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long thành trung tâm kinh tế nông nghiệp bền vững, năng động và hiệu quả cao của quốc gia, khu vực và thế giới, trên cơ sở phát triển hệ thống các trung tâm đầu mối về nông nghiệp, các hành lang kinh tế và chuỗi đô thị động lực.

Tập trung thúc đẩy mở rộng nuôi trồng thủy sản dựa trên nước mặn, nước lợ và phát triển “thuận thiên” để ngăn chặn xói mòn bờ biển và bờ sông. Ở các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau, cơ sở hạ tầng nước và quản lý công trình sẽ phải được sửa đổi, điều chỉnh để phù hợp với việc giảm diện tích trồng lúa (mặc dù vẫn duy trì các vùng trồng lúa đóng góp quan trọng vào an ninh lương thực quốc gia) và mở rộng nuôi trồng thủy sản, trái cây cũng như trồng trọt.

Tập trung phát triển công nghiệp theo hướng bền vững, thân thiện môi trường, trong đó công nghiệp chế biến công nghiệp hỗ trợ phát triển nông nghiệp là ngành mũi nhọn; phát triển dịch vụ đa dạng, ứng dụng công nghệ cao với hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng cường kết nối nội vùng, trong nước và quốc tế.

Quan tâm đẩy mạnh phát triển ngành du lịch theo thế mạnh, tiềm năng và đặc thù của vùng Đồng bằng sông Cửu Long như tiềm năng về văn hoá xã hội, cảnh quan môi trường, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch sông nước và nông nghiệp; đồng thời, chú ý đến vấn đề tác động xấu đến xã hội không mong muốn và sự xâm hại các di sản tự nhiên, di sản văn hóa và các giá trị di sản khác trong quá trình khai thác, phát triển du lịch.

Thứ ba, Xây dựng hệ thống đô thị thông minh, phù hợp với điều kiện tự nhiên của vùng, gắn kết hợp với các trung tầm đầu mối; bảo tồn các tài nguyên, hệ sinh thái quan trọng của vùng; duy trì và tôn tạo bản sắc văn hóa độc đáo, đa dạng của các dân tộc; chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng cao, đóng góp quan trọng vào sự phát triển thịnh vượng lâu dài của vùng. Ưu tiên phát triển và mở rộng khu công nghiệp, cụm công nghiệp ở khu vực đô thị động lực của vùng; hạn chế việc chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp tập trung, có giá trị kinh tế cao để mở rộng, phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp.

Thứ tư, Tập trung phát triển hạ tầng để đi trước một bước nhằm tạo nền tảng cho sự phát tăng trưởng nhanh, ổn định, bền vững của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Ưu tiên phát triển hạ tầng có ý nghĩa quan trọng cấp quốc gia, cấp vùng như giao thông, năng lượng, và kết cấu hạ tầng phục vụ việc chuyển đổi mô hình phát triển của vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong thời kỳ tiếp theo, đặc biệt là phát triển kinh tế nông nghiệp.

Cải thiện hạ tầng cấp nước theo hướng coi nước mặn, nước lợ là một nguồn tài nguyên bên cạnh nước ngọt với trọng tâm là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi xâm nhập mặn và hạn hán, lấy nước mặt từ vùng nước mặt ngọt vĩnh viễn; giảm dần và tiến tới dừng sử dụng nước ngầm để làm chậm tốc độ sụt lún đất.

Tiếp tục thực hiện các nhà máy nhiệt điện than đang xây dựng và thay thế tất cả các nhà máy điện than chưa xây dựng bằng các nhà máy điện sử dụng khí thiên nhiên/LNG và năng lượng tái tạo (mặt trời, gió…), trong đó, chú trọng quy trình xử lý chất thải vùng với lượng chất thải thu gom từ nhiều tỉnh để đạt được quy mô hiệu quả và áp dụng phương pháp đốt rác thanh năng lượng một cách hiệu quả và thân thiện với môi trường.

Thứ năm, Khoanh vùng quản lý, bảo tồn và khai thác hợp lý những di sản văn hóa, tín ngưỡng quan trọng và chú trọng bảo tồn hệ sinh thái và môi trường vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tái tạo hệ thống rừng ngập mặn. Kết hợp phát triển rừng ngập mặn ven biển với xây dựng hệ thống đê, kè ngăn sóng, chống triều cường, chống sạt lở đất, tạo điều kiện bồi đắp phù sa, mở rộng bãi bồi ven biển. Bảo vệ đa dạng sinh học, động vật hoang dã và hình thành hệ thống sinh. Tập trung khôi phục và bảo vệ rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng trong chống xói lở, bổ sung tái tạo nước ngầm, giảm ảnh hưởng thủy triều và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Ngoài ra, cần phục hồi và tạo ra những cấu trúc địa mạo, cảnh quan đặc thù nhằm tạo giá trị gia tăng và tiềm năng lớn cho du lịch vùng.

Bài viết liên quan