Hoa kỳ phải cuối đầu, cuốn cờ về nước năm 1973 là kết cục tất yếu!

Trong lịch sử của dân tộc ta, việc vừa chiến đấu vừa đàm phán không phải bắt đầu diễn ra ở thời đại Hồ Chí Minh, mà nó đã diễn ra trước đó từ rất lâu. Điển hình là việc Lê Lợi, Nguyễn Trãi đàm phán với quân đội nhà Minh với phương châm “ta mưu dẹp bằng đánh vào lòng, không chiến trận mà địch phải khuất phục”. (Ngã mưu phạt như tâm công, bất chiến tự khuất).

Thời ta đánh Mỹ, để có Hiệp đinh Paris năm 1973, quân và dân ta đã phải hy sinh nhiều máu xương và kiên trì trên mặt trận ngoại giao. Tất nhiên, yếu tố quyết định để buộc người Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán chính là chiến thắng trên chiến trường. Sau 8 năm trực tiếp mang quân đội sang nước ta xâm lược, Mỹ đã mất hơn 58.000 nhân mạng, 305.000 lính trở thành thương phế binh, mất 1000 tỷ USD (thời giá 2010) và hàng chục ngàn lính chư hầu bị khai tử. Họ hiểu rằng, không thể đánh bại được một dân tộc kiên cường, bất khuất như Việt Nam.

Mậu Thân năm 1968 chính là bước ngoặt của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nói như cố Tổng Bí thư Lê Duẩn thì đây là “Một cú đập lớn để tung toé ra các khả năng chính trị”, để tạo đột phá cho chiến tranh, nhằm buộc Hoa Kỳ xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào đàm phán. Sau chiến dịch Mậu Thân, người Mỹ thiệt hại rất lớn cả về nhân mạng cũng như tinh thần, phong trào phản chiến diễn ra khắp nước Mỹ. Ngay cả quân đội Mỹ đang tham chiến ở Việt Nam cũng hoang mang, trốn chạy hoặc phải dùng ma túy để an thần. Họ đối diện với cái chết bất kỳ lúc nào trên chiến trường miền Nam.

Ở Mỹ, nhân dân và đặc biệt là những gia đình có con em chết trận hoặc đang tham gia quân đội Mỹ ở Việt Nam phản ứng mạnh mẽ, họ ra đường biểu tình và phản đối nhà cầm quyền vì bắt người Mỹ tham gia một cuộc chiến phi nghĩa, chết ở nơi rừng sâu núi thẳm. Nhiều người hiện nay cho rằng, ta thất bại trong Mậu Thân 1968 nhưng thử hỏi, nếu không có những trận chiến đấu thành công thì làm sao có được kết quả thay đổi sau này. Việc cho rằng ta thua về chiến thuật trong Tết Mậu Thân 1968 là phi lý và mang tính chất bảo thủ, không dám thừa nhận thất bại hoặc là lý lẽ của những kẻ bất trí. Trong chiến dịch Mậu Thân, Mỹ, ngụy và chư hầu đã nhận tổn thất rất to lớn về mặt quân sự, 630.000 chết, bị thương, bị bắt hoặc tan rã,13.000 xe cơ giới, 1.000 tàu xuồng các loại, 700 kho đạn, 15.000 đồn bót bị phá hủy.

Nhà sử học Larry Berman nhận xét: “Tháng 1-1968, có 515.000 lính Mỹ, 1 triệu lính VNCH mà Sài Gòn vẫn không được bảo vệ. Tất cả người dân Mỹ đều nhìn thấy hình ảnh tòa đại sứ nằm dưới tầm lửa đạn trên tivi tại phòng khách mọi gia đình. Họ tự hỏi tại sao điều này lại có thể xảy ra. Tổng thống của chúng ta đã tuyên bố chúng ta đang đi đến khúc ngoặt của cuộc chiến và đang chuẩn bị giành thắng lợi đến nơi rồi. Cuộc tấn công tết bộc lộ ra cho người dân Mỹ thấy rằng toàn bộ cuộc chiến này dựa trên cơ sở của một lời dối trá”.

Sau 1968, Mỹ tuy thua về mọi mặt nhưng họ rất ngoan cố. Đúng như Bác Hồ từng tiên đoán ” Mỹ chỉ chịu thua khi họ thua trên bầu trời Hà Nội”. Nếu Mậu Thân là bước ngoặt thì Chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không 1972” đóng vai trò quyết định trực tiếp buộc chính phủ Mỹ phải ký kết Hiệp định Paris (27/1/1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Niềm tự hào của không lực Hoa Kỳ đã thật sự trở về “thời kỳ đồ nhôm”. Trong 12 ngày đêm, có 81 phi cơ bị bắn rơi, trong đó có có 34 B-52 (16 chiếc rơi tại chỗ) và 5 chiếc F-111.

Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán khi họ không có khả năng giành chiến thắng trước Quân đội nhân dân ta. Việc ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 đã buộc Mỹ phải rút khỏi Việt Nam vì họ thừa hiểu, dù có mang hết sức người, sức của và vũ khí đến để tiếp tục xâm lược thì chắc chắn họ sẽ không bao giờ chiến thắng trước dân tộc Việt Nam. Họ đã cố níu kéo và làm cho việc đàm phán bế tắc 5 năm nhưng ta đã rất kiên trì, vừa đàm phán vừa khuất phục họ trên sa trường. Vậy nên, dù khó khăn với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1.000 cuộc phỏng vấn và phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trên khắp Thế giới nhưng sau cùng thì vinh quang vẫn thuộc về dân tộc ta.

Sau khi Mỹ cúi đầu, cuốn cờ và buộc phải cút khỏi nước ta thì 2 năm sau, ngụy cũng phải nhào. Đúng như cụ Hồ từng đặt quyết tâm sắt đá “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào!”. 30/4/1975, ta đã khai tử chế độ tay sai, bán nước ngụy Sài Gòn, thu giang sơn về một mối. Không nghiễm nhiên mà bây giờ người Mỹ chọn Việt Nam là quốc gia khó bị xâm lược nhất! Nếu được quay lại thời gian và chịu khó học lịch sử Việt Nam thì chắc người Mỹ chẳng bao giờ dám bén mảng đến dân tộc này để xâm lược. Sau này giới chóp bu Hoa Kỳ khi đó đã hối hận vì trót tin đám ăn hại ngụy Sài Gòn vì không chỉ thua cả cuộc chiến mà còn để cho họ đu càng sang Mỹ, chiếm bang California để xây dựng thành “vùng 5 chiến thuật” và tử thủ ở đó suốt 46 năm qua. Đúng là thiệt đơn thiệt kéo./.
—————–

Lão chăn bò DVK – MNQ